Luật Việt Wiki
Tra cứu Wiki

Rút Yêu Cầu Khởi Kiện

Định nghĩa

Rút yêu cầu khởi kiện là hành vi tố tụng của nguyên đơn, trong đó nguyên đơn tự nguyện từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu đã khởi kiện trước Tòa án, không mong muốn Tòa án tiếp tục giải quyết các yêu cầu đó. Quyền rút yêu cầu khởi kiện là một trong những quyền cơ bản của nguyên đơn, được ghi nhận tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thể hiện nguyên tắc tự định đoạt của đương sự.

Điều kiện áp dụng

  • Chủ thể thực hiện: Phải là nguyên đơn hoặc người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.
  • Tính tự nguyện: Việc rút yêu cầu khởi kiện phải hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng đoạt hoặc trái pháp luật.
  • Thời điểm thực hiện: Nguyên đơn có thể rút yêu cầu khởi kiện ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng, từ giai đoạn chuẩn bị xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án tại phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm (Điểm c Khoản 1 Điều 217, Khoản 2 Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).
  • Hình thức: Việc rút yêu cầu khởi kiện phải được thể hiện bằng văn bản hoặc được ghi nhận vào biên bản phiên họp, phiên tòa nếu được trình bày trực tiếp trước Tòa án.
  • Phạm vi rút: Nguyên đơn có thể rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Hậu quả pháp lý

  • Đối với vụ án: Nếu nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (Điểm c Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Nếu nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết phần yêu cầu còn lại.
  • Về án phí: Nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu đã rút, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa nhưng trước khi xét xử, Tòa án sẽ xem xét để hoàn trả một phần hoặc toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án).
  • Quyền khởi kiện lại: Nếu vụ án bị đình chỉ giải quyết do nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án đó, với điều kiện việc khởi kiện lại không có gì khác về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, và thời hiệu khởi kiện vẫn còn, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định rõ trường hợp rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì được khởi kiện lại.

⚠️ WARNING

Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp

  • Phân biệt với từ bỏ quyền yêu cầu: Mặc dù cả hai đều dẫn đến việc chấm dứt giải quyết yêu cầu, rút yêu cầu khởi kiện là hành vi tố tụng mang tính tạm thời, cho phép nguyên đơn khởi kiện lại sau này. Trong khi đó, từ bỏ quyền yêu cầu là hành vi mang tính nội dung, thường có nghĩa là nguyên đơn vĩnh viễn không còn quyền đó, trừ khi có căn cứ pháp luật khác.
  • Tính tự nguyện trong thực tiễn: Trong thực tiễn xét xử, đôi khi tính tự nguyện của việc rút yêu cầu khởi kiện có thể bị đặt dấu hỏi, đặc biệt khi có sự gợi ý từ phía Tòa án hoặc áp lực từ các bên khác nhằm đạt được chỉ tiêu hòa giải hoặc giải quyết nhanh vụ án, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
  • Xác định án phí khi rút một phần yêu cầu: Mặc dù có quy định về án phí khi rút yêu cầu, việc xác định chính xác mức án phí phải nộp và hoàn trả trong trường hợp rút một phần yêu cầu, đặc biệt khi có nhiều yêu cầu độc lập hoặc liên quan, có thể phức tạp và gây tranh cãi trong thực tiễn áp dụng.
  • Phạm vi áp dụng của khái niệm: Khái niệm "rút yêu cầu khởi kiện" chủ yếu áp dụng cho nguyên đơn. Các bên khác như bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có "rút yêu cầu phản tố" hoặc "rút yêu cầu độc lập", tuy nhiên các thuật ngữ và hệ quả pháp lý cần được phân biệt rõ ràng để tránh nhầm lẫn.

Xem thêm: don_khoi_kien

Được tham chiếu bởi ban_an_so_01_2017_kdtm

Xem thêm: quyen_rut_yeu_cau_phan_to

Báo lỗi chất lượng bài viết