Tranh Chấp Chia Di Sản Thừa Kế
Định nghĩa
Tranh chấp chia di sản thừa kế là mâu thuẫn, bất đồng giữa những người có quyền hưởng di sản của người chết về các vấn đề liên quan đến sự tồn tại, xác định người thừa kế, giá trị, quyền sở hữu, quyền sử dụng, phương thức phân chia di sản, hoặc việc thực hiện các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, mà các bên không thể tự thỏa thuận giải quyết được và cần đến sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điển hình là Tòa án. Khái niệm này được quy định gián tiếp thông qua các điều khoản về quyền thừa kế và phân chia di sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Điều kiện áp dụng
- Có sự kiện chết của một người, làm phát sinh di sản và mở thừa kế theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Có di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung hoặc các quyền và nghĩa vụ tài sản theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Có ít nhất từ hai người thừa kế trở lên (theo di chúc hoặc theo pháp luật) có quyền hưởng di sản thừa kế theo Điều 613, Điều 626, Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Phát sinh mâu thuẫn, bất đồng giữa những người thừa kế về các vấn đề như: xác định người thừa kế, xác định phần di sản của mỗi người, phương thức phân chia, giá trị di sản, hoặc các vấn đề liên quan đến di chúc (nếu có).
- Các bên tranh chấp không thể tự thỏa thuận giải quyết được mâu thuẫn và có yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) giải quyết tranh chấp đó.
Hậu quả pháp lý
- Phát sinh quyền khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015).
- Các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Phải chịu án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án (Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội).
- Tòa án sẽ ra phán quyết về việc phân chia di sản, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, bao gồm cả việc giải quyết nợ của người chết và chi phí mai táng theo Điều 658, Điều 659 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa việc yêu cầu chia di sản và yêu cầu công nhận quyền thừa kế đối với di sản mà các đồng thừa kế đang cùng quản lý. Thực tiễn xét xử và các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao (như Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực nhưng vẫn còn ảnh hưởng tư duy) đã từng phân biệt, dẫn đến sự không thống nhất trong việc áp dụng thời hiệu trong một số trường hợp cụ thể, đặc biệt khi di sản là quyền sử dụng đất đã được sử dụng ổn định qua nhiều thế hệ.
- Xác định tài sản chung của vợ chồng người để lại di sản: Việc xác định ranh giới giữa tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với vợ/chồng còn sống (hoặc đã chết trước) thường gặp khó khăn do thiếu giấy tờ chứng minh rõ ràng, đặc biệt với tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân kéo dài, gây phức tạp trong việc xác định di sản thực tế.
- Di sản là quyền sử dụng đất: Khi di sản bao gồm quyền sử dụng đất, việc phân chia có thể mâu thuẫn với các quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa, quy hoạch sử dụng đất, hoặc không thể chia nhỏ trên thực địa, buộc các bên phải thỏa thuận chia bằng giá trị hoặc bán đấu giá, gây thêm tranh chấp.
- Hiệu lực của di chúc: Các tranh chấp thường xuyên phát sinh từ việc di chúc không hợp pháp về hình thức, nội dung (vi phạm Điều 626, Điều 630, Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015), bị cho là giả mạo, hoặc không rõ ràng, dẫn đến việc phải xác định di sản được chia theo di chúc hay theo pháp luật.
- Quyền thừa kế của con nuôi, con riêng, con ngoài giá thú: Việc xác định chính xác người thừa kế, đặc biệt là con nuôi, con riêng, hoặc con ngoài giá thú, cần phải có căn cứ pháp lý vững chắc (giấy tờ, chứng cứ chứng minh quan hệ), đôi khi dẫn đến các tranh chấp phức tạp về quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng để xác định hàng thừa kế.
Xem thêm: di_san_thua_ke
Xem thêm: thua_ke_theo_di_chuc
Xem thêm: di_san
Được tham chiếu bởi ban_an_so_01_2017_dsst_2