Luat Thi Hanh An Dan Su 2008
Định nghĩa
Luật Thi hành án dân sự 2008 là văn bản pháp luật nền tảng quy định về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án và các quyết định khác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Nhà nước. Luật này được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 và sau đó được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật ngày 25 tháng 11 năm 2014, theo đó hai văn bản này được gọi chung là Luật Thi hành án dân sự. (Tham chiếu: Tài liệu 4, "Căn cứ Luật Thi hành án dân sự ngày 14 tháng 11 năm 2008 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự ngày 25 tháng 11 năm 2014 (sau đây gọi chung là Luật Thi hành án dân sự)").
Điều kiện áp dụng
- Phải có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật dân sự hoặc các quyết định khác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cần phải thi hành.
- Phải có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án hoặc người có quyền, lợi ích hợp pháp (trừ các trường hợp thi hành án chủ động theo quy định của pháp luật).
- Cơ quan thi hành án dân sự (như Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện, Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh thuộc Bộ Tư pháp) phải được thành lập và hoạt động để tiếp nhận và tổ chức thi hành án, được cấp phát và quản lý kinh phí theo đúng quy định. (Tham chiếu: Tài liệu 2, 3 đề cập đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; Tài liệu 4 đề cập đến các cơ quan thi hành án dân sự là đối tượng áp dụng của Thông tư hướng dẫn thi hành luật).
- Có sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan như Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong quá trình tổ chức thi hành án. (Tham chiếu: Tài liệu 4, Điều 1, Điều 2).
Hậu quả pháp lý
- Đối với người được thi hành án: Có quyền yêu cầu thi hành án, quyền được nhận tài sản, tiền theo bản án, quyết định đã có hiệu lực; quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án.
- Đối với người phải thi hành án: Có nghĩa vụ phải tự nguyện thi hành bản án, quyết định; trong trường hợp không tự nguyện, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật (ví dụ: cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản, kê biên, xử lý tài sản).
- Đối với cơ quan nhà nước: Các cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức thi hành án, quản lý kinh phí, lập báo cáo thống kê theo quy định (Tham chiếu: Tài liệu 2, 3, 4); Viện Kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động thi hành án; Tòa án nhân dân có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, kháng nghị liên quan đến hoạt động thi hành án (Tham chiếu: Tài liệu 4, Điều 2).
- Góp phần củng cố kỷ cương pháp luật, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các phán quyết tư pháp và quyết định hành chính, giữ vững trật tự xã hội.
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Các tài liệu được cung cấp không đề cập đến các điểm mâu thuẫn, chưa rõ ràng hoặc các quan điểm tranh luận trái chiều trong giới luật học liên quan đến "Luật Thi hành án dân sự 2008" hoặc việc áp dụng Luật này.