Luật Việt Wiki
Tra cứu Wiki

Đình Chỉ Xét Xử

Thuộc: quyet_dinh_xet_xu

Định nghĩa

Đình chỉ xét xử là một quyết định tố tụng của Tòa án có thẩm quyền, nhằm chấm dứt vĩnh viễn việc giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ pháp luật quy định. Quyết định này chấm dứt mọi hoạt động tố tụng của Tòa án đối với vụ án đã thụ lý, dẫn đến việc vụ án không còn được tiếp tục đưa ra xét xử hoặc không còn nằm trong phạm vi giải quyết của Tòa án đó nữa.

Điều kiện áp dụng

  • Trong tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm các trường hợp: Người khởi kiện hoặc nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; Người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng dân sự; Cơ quan, tổ chức đã khởi kiện giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc cá nhân đã khởi kiện chết mà không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng; Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; Không có địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên trong vụ án mà pháp luật về phá sản có quy định phải đình chỉ; Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 190 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn nộp hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Trong tố tụng hình sự, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án (tương đương với đình chỉ xét xử ở giai đoạn tòa án) khi thuộc một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (áp dụng cho giai đoạn điều tra, truy tố và về nguyên tắc cũng là căn cứ để đình chỉ tại giai đoạn xét xử nếu phát hiện): Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà theo quy định của Bộ luật hình sự, hành vi của họ không cấu thành tội phạm; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được ân xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần chứng minh sự thật về hành vi phạm tội của người đã chết để người khác có yêu cầu bồi thường thiệt hại; Vụ án đã được đình chỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của Bộ luật này; Người bị hại tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với vụ án quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này.
  • Trong tố tụng hành chính, đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Điều 143 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, tương tự các căn cứ như trong tố tụng dân sự, phù hợp với đặc thù của vụ án hành chính.

Hậu quả pháp lý

  • Vụ án bị đình chỉ giải quyết và Tòa án ra quyết định đình chỉ. Quyết định này chấm dứt toàn bộ quá trình tố tụng đối với vụ án đó.
  • Những người tham gia tố tụng không được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó nếu việc đình chỉ là do nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc vì các lý do khác khiến việc giải quyết vụ án đã kết thúc có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, nếu việc đình chỉ là do không có địa chỉ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì người khởi kiện có quyền khởi kiện lại khi tìm được địa chỉ mới (khoản 3 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 144 Luật Tố tụng hành chính năm 2015).
  • Án phí, lệ phí Tòa án đã nộp sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật. Thường thì, nguyên đơn được trả lại một phần tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp đình chỉ do họ rút đơn khởi kiện (khoản 2 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 144 Luật Tố tụng hành chính năm 2015).
  • Các biện pháp khẩn cấp tạm thời (trong dân sự, hành chính) hoặc biện pháp ngăn chặn (trong hình sự) đã được áp dụng sẽ bị hủy bỏ, trừ trường hợp có quy định khác.
  • Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ vụ án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

⚠️ WARNING

Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp

  • Sự phân biệt giữa 'đình chỉ giải quyết vụ án' và 'tạm đình chỉ giải quyết vụ án': Mặc dù bản chất là khác nhau (đình chỉ là chấm dứt vĩnh viễn, tạm đình chỉ là dừng lại có khả năng tiếp tục), trong thực tiễn áp dụng và lý luận đôi khi có sự nhầm lẫn hoặc khó khăn trong việc xác định ranh giới, đặc biệt là khi các lý do tạm đình chỉ kéo dài.
  • Tính chất 'vĩnh viễn' của quyết định đình chỉ: Một số trường hợp đình chỉ (ví dụ: do không tìm được địa chỉ của bị đơn) cho phép người khởi kiện khởi kiện lại khi có căn cứ mới. Điều này đặt ra câu hỏi về tính chất 'vĩnh viễn' tuyệt đối của quyết định đình chỉ và hiệu lực pháp lý của nó.
  • Quyền của Tòa án khi Viện kiểm sát rút cáo trạng: Trong tố tụng hình sự, khi Viện kiểm sát rút toàn bộ cáo trạng tại phiên tòa, Tòa án phải đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, việc Tòa án có được quyền xem xét căn cứ rút cáo trạng của Viện kiểm sát hay không, hay chỉ đơn thuần chấp nhận, đôi khi còn có ý kiến khác nhau trong giới luật học và thực tiễn xét xử.
  • Án phí trong trường hợp đình chỉ: Việc xác định nguyên tắc trả lại hoặc không trả lại án phí, đặc biệt trong các trường hợp phức tạp có liên quan đến lỗi của các bên hoặc sự thay đổi của pháp luật, vẫn còn là vấn đề cần được hướng dẫn cụ thể hơn để đảm bảo tính công bằng.
  • Ảnh hưởng của quyết định đình chỉ đối với các quyền và lợi ích liên quan: Một quyết định đình chỉ có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của những người không trực tiếp tham gia tố tụng (ví dụ: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa được triệu tập hợp lệ), điều này đòi hỏi Tòa án phải rất thận trọng và đảm bảo đúng thủ tục.

Xem thêm: xet_xu_phuc_tham

Được tham chiếu bởi ban_an_so_01_2017_kdtm

Xem tài liệu gốc

Báo lỗi chất lượng bài viết