Thẩm Quyền Đại Diện Ký Kết Hợp Đồng
Định nghĩa
Thẩm quyền đại diện ký kết hợp đồng là quyền năng pháp lý của cá nhân hoặc pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự dưới hình thức hợp đồng trong phạm vi đại diện được xác định theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa thuận của các bên, được ghi nhận tại Điều 134 và Điều 135 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều kiện áp dụng
- Người thực hiện hành vi ký kết phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp để xác lập và thực hiện hợp đồng.
- Phải tồn tại tư cách đại diện hợp pháp, bao gồm đại diện theo pháp luật được xác định qua điều lệ của pháp nhân, quyết định của cơ quan nhà nước, hoặc đại diện theo ủy quyền bằng văn bản hợp pháp.
- Hành vi ký kết hợp đồng phải được thực hiện trong phạm vi đại diện hợp pháp đã được xác định, không vượt quá giới hạn thẩm quyền được giao.
- Việc thể hiện ý chí của người đại diện khi ký kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay cưỡng ép.
Hậu quả pháp lý
- Hợp đồng do người đại diện xác lập trong phạm vi thẩm quyền đại diện làm phát sinh trực tiếp quyền và nghĩa vụ đối với người được đại diện theo Điều 139 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Hợp đồng do người không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện ký kết sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện phê chuẩn hoặc biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý.
- Người ký kết không có thẩm quyền hoặc vượt quá phạm vi đại diện phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba ngay tình, trừ trường hợp bên thứ ba biết hoặc phải biết về việc thiếu thẩm quyền nhưng vẫn giao dịch.
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Xung đột pháp lý giữa việc bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba ngay tình với việc bảo vệ tài sản của pháp nhân khi người đại diện theo pháp luật ký kết hợp đồng vượt quá thẩm quyền hạn chế ghi trong Điều lệ nhưng đối tác không biết.
- Sự thiếu đồng nhất và chưa có hướng dẫn giải thích cụ thể về tiêu chí xác định hành vi 'biết mà không phản đối' và định lượng thế nào là 'thời hạn hợp lý' quy định tại Điều 142 và Điều 143 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Quan điểm trái chiều trong thực tiễn xét xử về hiệu lực hợp đồng do người đứng đầu chi nhánh ký kết khi giấy ủy quyền của pháp nhân chủ quản bị khuyết thiếu nội dung hoặc đã hết hiệu lực nhưng pháp nhân vẫn thụ hưởng kết quả từ hợp đồng.
Xem thêm: tham_quyen_nguoi_dai_dien_theo_phap_luat
Được tham chiếu bởi an_le_09_2016_trong_tai