Thẩm Quyền Đại Diện
Định nghĩa
Thẩm quyền đại diện là giới hạn, phạm vi các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà người đại diện được phép thực hiện nhân danh người được đại diện trong các giao dịch dân sự hoặc các hành vi pháp lý khác. Giới hạn này có thể được xác lập theo quy định của pháp luật đối với đại diện theo pháp luật (ví dụ: cha mẹ đối với con chưa thành niên), hoặc theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng ủy quyền, văn bản ủy quyền đối với đại diện theo ủy quyền. Hành vi của người đại diện chỉ có giá trị pháp lý và ràng buộc người được đại diện khi được thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện đó.
Điều kiện áp dụng
- Thẩm quyền đại diện phải được xác lập dựa trên một trong hai căn cứ hợp pháp theo Điều 135 Bộ luật Dân sự 2015: theo quy định của pháp luật hoặc theo sự ủy quyền.
- Người được đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà người đại diện sẽ xác lập nhân danh mình.
- Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập. Cụ thể, người đại diện theo ủy quyền phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 137 Bộ luật Dân sự 2015).
- Giao dịch dân sự mà người đại diện xác lập không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
- Người đại diện phải xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi thẩm quyền đã được xác định. Nếu vượt quá thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền, giao dịch sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác (Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015).
- Người đại diện phải thực hiện hành vi pháp lý nhân danh người được đại diện, không phải nhân danh chính mình.
Hậu quả pháp lý
- Trong phạm vi thẩm quyền: Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi thẩm quyền đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện. Người được đại diện chịu trách nhiệm về các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó (Điều 138 Bộ luật Dân sự 2015).
- Ngoài phạm vi thẩm quyền hoặc không có thẩm quyền:
- Hiệu lực giao dịch: Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện hoặc người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện chấp thuận (phê chuẩn) giao dịch đó (khoản 1 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015).
- Quyền của người thứ ba: Nếu người được đại diện không chấp thuận, người đã giao dịch với người không có quyền đại diện hoặc người đại diện vượt quá phạm vi đại diện có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự đã xác lập và yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao dịch (khoản 2 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015).
- Trách nhiệm của người đại diện không có thẩm quyền/vượt quá thẩm quyền: Người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình, trừ trường hợp người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện nhưng vẫn giao dịch (khoản 3 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015).
- Chấm dứt đại diện: Khi quan hệ đại diện chấm dứt theo các trường hợp quy định tại Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015 (ví dụ: hết thời hạn ủy quyền, công việc ủy quyền hoàn thành, người được đại diện hoặc người đại diện chết), thẩm quyền đại diện cũng chấm dứt theo. Các giao dịch được xác lập sau thời điểm chấm dứt sẽ không có giá trị đối với người được đại diện, trừ trường hợp người thứ ba không biết và không thể biết được sự chấm dứt này mà giao dịch đã được xác lập vì lợi ích của người được đại diện.
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Phạm vi và hình thức của sự 'chấp thuận' (phê chuẩn) giao dịch vượt thẩm quyền: Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người được đại diện có thể chấp thuận giao dịch vượt thẩm quyền, nhưng không quy định rõ hình thức (bằng văn bản hay ngầm định) và thời hạn thực hiện việc chấp thuận, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng và chứng minh.
- Bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp đại diện vượt quá thẩm quyền: Việc chứng minh 'người đó biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi đại diện' theo khoản 2 Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 là một thách thức lớn trong tố tụng. Thực tiễn xét xử thường rất khó để xác định khách quan yếu tố 'phải biết', dẫn đến sự thiếu nhất quán trong việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
- Mối quan hệ giữa thẩm quyền đại diện theo Bộ luật Dân sự và quy định nội bộ của pháp nhân: Trong pháp nhân, người đại diện theo pháp luật có thẩm quyền được quy định bởi Luật Doanh nghiệp, điều lệ công ty và nghị quyết của các cơ quan có thẩm quyền. Khi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân xác lập giao dịch vượt quá thẩm quyền được quy định trong điều lệ hoặc nghị quyết nội bộ mà người giao dịch bên ngoài không biết, thì hiệu lực của giao dịch đó có được giải quyết hoàn toàn theo Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015 hay cần xem xét các nguyên tắc đặc thù của pháp luật về doanh nghiệp để bảo vệ sự ổn định của quan hệ kinh doanh và người thứ ba ngay tình là một điểm tranh luận.
- Phân biệt rõ ràng giữa đại diện 'không có thẩm quyền' và 'vượt quá thẩm quyền': Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 đã gom chung hậu quả tại Điều 143, nhưng trong thực tiễn, ranh giới giữa hai trường hợp này đôi khi không rõ ràng, dẫn đến những vướng mắc trong việc xác định chính xác bản chất vi phạm và trách nhiệm của các bên liên quan.
- Hiệu lực của giao dịch khi thẩm quyền đại diện đã chấm dứt mà người thứ ba không biết: Khoản 3 Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình khi giao dịch được xác lập sau khi đại diện chấm dứt. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này và chứng minh sự 'không biết và không thể biết' của người thứ ba đôi khi còn chưa rõ ràng và cần hướng dẫn chi tiết hơn để đảm bảo quyền lợi của các bên.
Được tham chiếu bởi an_le_09_2016_trong_tai