Tài Sản Thuộc Sở Hữu
Định nghĩa
Tài sản thuộc sở hữu là những vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản mà trên đó một chủ thể xác định (cá nhân, pháp nhân, Nhà nước hoặc các chủ thể khác) được xác lập và thực hiện đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt theo quy định của pháp luật. Khái niệm này kết hợp định nghĩa về tài sản tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khái niệm quyền sở hữu tại Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015, nhấn mạnh mối liên hệ giữa chủ thể và đối tượng tài sản thông qua quyền sở hữu.
Điều kiện áp dụng
- Đối tượng phải là tài sản theo định nghĩa của pháp luật Việt Nam, bao gồm vật (động sản, bất động sản), tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
- Chủ thể sở hữu phải được xác định rõ ràng, có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp để xác lập và thực hiện quyền sở hữu.
- Quyền sở hữu đối với tài sản phải được xác lập một cách hợp pháp thông qua các căn cứ do pháp luật quy định, bao gồm: do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp; được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; thu hoa lợi, lợi tức; do tạo ra tài sản mới; do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; do thừa kế; chiếm hữu trong điều kiện luật định đối với tài sản vô chủ, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước hoặc các căn cứ khác do pháp luật quy định (Điều 179 Bộ luật Dân sự 2015).
- Đối với một số loại tài sản nhất định như bất động sản, quyền sở hữu phải được đăng ký theo quy định của pháp luật để có giá trị pháp lý đối kháng với người thứ ba (Điều 167 Bộ luật Dân sự 2015).
Hậu quả pháp lý
- Chủ sở hữu có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình (Điều 186, 189, 192 Bộ luật Dân sự 2015).
- Tài sản thuộc sở hữu là cơ sở để chủ sở hữu thực hiện các giao dịch dân sự như mua bán, tặng cho, trao đổi, vay mượn, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, cho thuê, cho mượn hoặc các giao dịch khác theo quy định của pháp luật.
- Chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ quyền sở hữu của mình; không ai có thể bị hạn chế, tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình (Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015).
- Chủ sở hữu có nghĩa vụ tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác khi thực hiện quyền sở hữu (Điều 163 Bộ luật Dân sự 2015).
- Chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về tài sản của mình theo quy định của pháp luật, ví dụ: nghĩa vụ nộp thuế, bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến tài sản (Điều 208 Bộ luật Dân sự 2015).
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Phân loại và phạm vi của 'tài sản': Việc xác định các đối tượng mới phát sinh trong nền kinh tế số như tài sản ảo, tiền điện tử (cryptocurrency), dữ liệu số có phải là 'tài sản' theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 hay không vẫn còn là vấn đề tranh luận. Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có định nghĩa rõ ràng hoặc quy định cụ thể về quyền sở hữu đối với các loại tài sản này, dẫn đến khó khăn trong việc xác lập, bảo vệ quyền sở hữu và giải quyết tranh chấp liên quan.
- Giới hạn quyền sở hữu và lợi ích công cộng: Mặc dù quyền sở hữu được bảo hộ tuyệt đối, nhưng việc thực hiện quyền này bị giới hạn bởi lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh quốc gia. Việc xác định ranh giới và cân bằng giữa quyền lợi của chủ sở hữu và lợi ích công cộng đôi khi chưa rõ ràng, gây ra tranh cãi trong các trường hợp thu hồi đất, trưng mua, trưng dụng tài sản.
- Chứng minh quyền sở hữu trong thực tiễn: Trong nhiều trường hợp, đặc biệt đối với tài sản không thuộc diện phải đăng ký hoặc tài sản được chuyển giao qua nhiều giao dịch không chính thức, việc chứng minh quyền sở hữu trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự đánh giá phức tạp từ cơ quan tài phán, gây rủi ro pháp lý cho các bên liên quan.
- Xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, bị đánh rơi, bị chôn giấu: Các quy định về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, tài sản bị chôn giấu, chìm đắm (từ Điều 228 đến Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015) đôi khi vẫn còn những điểm chưa hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn trong việc xác định thời điểm và điều kiện phát sinh quyền sở hữu, đặc biệt đối với các tài sản có giá trị lớn hoặc liên quan đến di tích lịch sử, văn hóa.
Được tham chiếu bởi ban_an_so_01_2017_dsst_2