Nguyên Tắc Có Đi Có Lại
Định nghĩa
Nguyên tắc có đi có lại trong pháp luật Việt Nam là nguyên tắc quan hệ quốc tế, theo đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp xử lý, thủ tục tố tụng hoặc dành cho cá nhân, pháp nhân nước ngoài các quyền lợi tương xứng với những biện pháp, thủ tục hoặc quyền lợi mà quốc gia đó đã hoặc sẽ áp dụng đối với Việt Nam, công dân hoặc pháp nhân Việt Nam trong cùng một lĩnh vực, đặc biệt là trong tương trợ tư pháp và tố tụng dân sự.
Điều kiện áp dụng
- Giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc gia liên quan chưa cùng là thành viên hoặc chưa ký kết điều ước quốc tế về lĩnh vực pháp lý cần giải quyết.
- Có sự cam kết áp dụng hoặc thực tế quốc gia nước ngoài đã áp dụng sự đối xử tương đương đối với Việt Nam, công dân hoặc pháp nhân Việt Nam.
- Việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, không gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc lợi ích công cộng của Việt Nam.
- Có sự phối hợp, xác nhận hoặc đề xuất bằng văn bản giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam như Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao.
Hậu quả pháp lý
- Tòa án Việt Nam có thể xem xét, công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trên cơ sở có đi có lại theo quy định tại Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việt Nam thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ hoặc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù từ các quốc gia chưa có hiệp định song phương với Việt Nam.
- Xác lập hoặc hạn chế quyền năng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam tương ứng với cách ứng xử của quốc gia họ đối với công dân, pháp nhân Việt Nam.
- Áp dụng các biện pháp trả đũa pháp lý hợp pháp nếu quốc gia nước ngoài có hành vi phân biệt đối xử hoặc hạn chế quyền lợi của công dân, pháp nhân Việt Nam.
⚠️ WARNING
Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp
- Thiếu cơ chế và tiêu chí pháp lý rõ ràng để xác định thế nào là có đi có lại trên thực tế, dẫn đến sự lúng túng của các cơ quan tiến hành tố tụng khi thụ lý giải quyết.
- Tranh luận về nghĩa vụ chứng minh sự có đi có lại thuộc về đương sự yêu cầu hay thuộc về trách nhiệm xác minh của Tòa án phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp.
- Sự mâu thuẫn giữa nhu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và sự chậm trễ trong việc xác minh thông tin ngoại giao về nguyên tắc này.
- Chưa thống nhất quan điểm giữa việc chỉ cần có tiền lệ quốc gia nước ngoài từng thực hiện hành vi tương tự cho Việt Nam hay bắt buộc phải có cam kết ngoại giao bằng văn bản mới đủ điều kiện áp dụng.
Được tham chiếu bởi cong_uoc_new_york_1958