Luật Việt Wiki
Tra cứu Wiki

Bồi Thường Đường Dây Điện

Thuộc: boi_thuong

Định nghĩa

Bồi thường đường dây điện là tổng hợp các khoản bồi thường thiệt hại và hỗ trợ phát sinh khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình điện lực hoặc khi việc tồn tại và vận hành đường dây dẫn điện gây ra thiệt hại, hạn chế quyền sử dụng đất, sử dụng tài sản của tổ chức, cá nhân. Khái niệm này bao gồm bồi thường theo quy định của pháp luật về đất đai khi thu hồi đất và bồi thường thiệt hại do việc xác lập hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không gây ra đối với nhà ở, công trình khác, cây trồng trên đất, cũng như hỗ trợ di dời, cải tạo, xây dựng mới các công trình trong hành lang bảo vệ an toàn công trình điện lực theo quy định của Luật Điện lực năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2012) và Nghị định số 14/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện.

Điều kiện áp dụng

  • Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình điện lực: Đất nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được Nhà nước quyết định thu hồi đất theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Luật Đất đai năm 2013 và các nghị định hướng dẫn.
  • Thiệt hại do hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện gây ra: Nhà ở, công trình khác, cây trồng trên đất hiện có trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không bị ảnh hưởng, gây thiệt hại hoặc bị hạn chế khả năng sử dụng (bao gồm cả hạn chế chiều cao xây dựng hoặc trồng cây) theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP.
  • Thiệt hại phải là thiệt hại thực tế, trực tiếp gây ra bởi sự tồn tại hoặc vận hành của đường dây điện trong hành lang an toàn.
  • Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại có quyền sử dụng hợp pháp đối với nhà ở, công trình, cây trồng, đất đai bị ảnh hưởng.
  • Diện tích đất, nhà ở, công trình nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện có cấp điện áp từ 110 kV trở lên và bị hạn chế mục đích sử dụng hoặc khả năng sử dụng theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP.

Hậu quả pháp lý

  • Đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất để xây dựng công trình điện lực: Tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi được bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất (nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi) theo giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và giá trị tài sản theo quy định của pháp luật đất đai (ví dụ: Nghị định số 47/2014/NĐ-CP). Ngoài ra, người bị thu hồi đất còn được hưởng các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm, tái định cư (nếu có) theo quy định của pháp luật.
  • Đối với bồi thường thiệt hại do hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không gây ra (mà không thu hồi đất):
    • Đối với nhà ở, công trình khác: Được bồi thường, hỗ trợ phần diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện có cấp điện áp từ 110 kV trở lên bị hạn chế chiều cao theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 26/2015/TT-BCT. Nếu không thể cải tạo để đảm bảo an toàn, công trình có thể phải di dời và chủ sở hữu được hỗ trợ chi phí di dời, cải tạo, xây dựng mới theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP.
    • Đối với cây trồng trên đất: Được bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế hoặc theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại thời điểm bồi thường theo Khoản 2 Điều 14 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP.
    • Đối với đất nằm trong hành lang an toàn không bị thu hồi nhưng bị hạn chế khả năng sử dụng: Người có đất được bồi thường bằng tiền theo mức độ hạn chế quyền sử dụng đất. Mức bồi thường thường được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm (%) so với giá đất bồi thường khi thu hồi đất cùng loại theo quy định của pháp luật đất đai và các văn bản hướng dẫn chi tiết của địa phương.

⚠️ WARNING

Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp

  • Xác định mức độ thiệt hại và giá trị bồi thường đối với đất bị hạn chế khả năng sử dụng: Việc xác định chính xác giá trị bồi thường đối với việc “hạn chế khả năng sử dụng đất” mà không thu hồi đất (đặc biệt là đối với đất ở hoặc đất có tiềm năng phát triển) vẫn còn nhiều tranh cãi. Mức bồi thường thường được quy định là một tỷ lệ phần trăm so với giá đất thu hồi, nhưng việc áp dụng tỷ lệ này trong thực tế có thể không phản ánh đầy đủ giá trị thiệt hại về kinh tế, thẩm mỹ hoặc khả năng khai thác lâu dài của người sử dụng đất, dẫn đến khó khăn trong việc đồng thuận giữa người dân và chủ đầu tư.
  • Thời điểm xác định giá trị bồi thường: Việc xác định thời điểm để áp dụng bảng giá đất và đơn giá bồi thường tài sản có thể gây tranh cãi, đặc biệt trong các trường hợp kéo dài hoặc khi giá đất, giá vật tư biến động. Việc áp dụng giá tại thời điểm có quyết định thu hồi đất hay thời điểm phê duyệt phương án bồi thường có thể tạo ra sự chênh lệch lớn về quyền lợi cho người dân.
  • Phạm vi áp dụng của bồi thường thiệt hại: Có quan điểm cho rằng, ngoài những thiệt hại trực tiếp được liệt kê (nhà ở, công trình, cây trồng), còn có những thiệt hại gián tiếp khác như suy giảm giá trị bất động sản do tâm lý e ngại về rủi ro điện từ trường, tiếng ồn, hoặc khó khăn trong việc thế chấp, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Các thiệt hại này hiện chưa được pháp luật quy định rõ ràng về cơ chế bồi thường, gây khó khăn cho người dân khi yêu cầu và cho cơ quan nhà nước khi giải quyết.
  • Sự chồng chéo và thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật: Mặc dù đã có các nghị định và thông tư hướng dẫn, nhưng vẫn có những trường hợp cụ thể mà việc áp dụng quy định của Luật Đất đai, Luật Điện lực và các văn bản liên quan chưa thực sự đồng bộ, dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và giải quyết khiếu nại, tranh chấp. Ví dụ, việc xác định tính hợp pháp của tài sản và thời điểm tài sản được tạo lập trong hành lang an toàn để đủ điều kiện bồi thường.

Xem thêm: duong_day_dien_500kv

Xem thêm: duong_day_dien_220kv

Được tham chiếu bởi ban_an_so_01_2017_dsst_2

Xem tài liệu gốc

Báo lỗi chất lượng bài viết