Luật Việt Wiki
Tra cứu Wiki

Bảo Lưu Của Quốc Gia Thành Viên

Định nghĩa

Bảo lưu điều ước quốc tế của quốc gia thành viên là tuyên bố đơn phương bằng văn bản của quốc gia đó đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế đa phương, nhằm mục đích loại trừ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của một hoặc một số quy định trong điều ước quốc tế đó trong việc áp dụng đối với quốc gia này, phù hợp với quy định tại Khoản 7 Điều 2 Luật Điều ước quốc tế năm 2016 của Việt Nam.

Điều kiện áp dụng

  • Tuyên bố bảo lưu phải được lập bằng văn bản chính thức.
  • Thời điểm đưa ra bảo lưu phải trùng với thời điểm ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước quốc tế đa phương.
  • Điều ước quốc tế đa phương liên quan không thuộc trường hợp cấm bảo lưu toàn bộ hoặc cấm bảo lưu đối với điều khoản cụ thể đó.
  • Nội dung bảo lưu không được trái với đối tượng và mục đích của điều ước quốc tế đó theo quy định của pháp luật quốc tế.
  • Trường hợp bảo lưu được đưa ra khi ký điều ước quốc tế cần phải phê chuẩn hoặc phê duyệt, thì quốc gia phải xác nhận lại chính thức bảo lưu đó khi thể hiện sự đồng ý ràng buộc sau cùng.

Hậu quả pháp lý

  • Đối với quốc gia đưa ra bảo lưu: Sẽ loại trừ hoặc sửa đổi hiệu lực pháp lý của điều khoản bị bảo lưu trong quan hệ với các quốc gia thành viên khác.
  • Áp dụng nguyên tắc có đi có lại: Quốc gia thành viên khác cũng có quyền không áp dụng hoặc áp dụng hạn chế điều khoản tương ứng trong quan hệ song phương với quốc gia đã đưa ra bảo lưu.
  • Không ảnh hưởng đến bên thứ ba: Hiệu lực của các điều khoản khác trong điều ước quốc tế giữa quốc gia bảo lưu với các thành viên khác, cũng như quan hệ giữa các thành viên khác với nhau, vẫn được giữ nguyên.
  • Trường hợp có quốc gia phản đối bảo lưu: Nếu quốc gia phản đối không từ chối thiết lập quan hệ điều ước, thì điều khoản bị bảo lưu sẽ không được áp dụng giữa hai bên trong phạm vi của sự bảo lưu đó.

⚠️ WARNING

Mâu thuẫn pháp lý / Điểm tranh chấp

  • Khó khăn trong việc phân biệt giữa bảo lưu và tuyên bố giải thích: Nhiều quốc gia thực hiện việc bảo lưu ngầm dưới danh nghĩa tuyên bố giải thích nhằm tránh các lệnh cấm bảo lưu của điều ước, gây ra sự bất đồng quan điểm sâu sắc trong thực tiễn áp dụng và giải thích luật.
  • Thiếu cơ chế đánh giá khách quan về tính tương thích: Không có một cơ quan pháp lý quốc tế tập trung có thẩm quyền phán quyết tuyệt đối thế nào là một bảo lưu trái với đối tượng và mục đích của điều ước, dẫn đến tình trạng các quốc gia tự ý giải thích theo ý chí chủ quan.
  • Tranh luận về hệ quả của bảo lưu không hợp lệ: Giới luật học Việt Nam và quốc tế vẫn chia rẽ giữa hai quan điểm: một bên cho rằng quốc gia đưa ra bảo lưu không hợp lệ sẽ không được coi là thành viên của điều ước; bên còn lại cho rằng quốc gia đó vẫn là thành viên nhưng điều khoản bị bảo lưu không hợp lệ sẽ bị bãi bỏ khỏi phạm vi áp dụng đối với họ.

Được tham chiếu bởi cong_uoc_new_york_1958

Báo lỗi chất lượng bài viết